Vài suy nghĩ về thực trạng và một số thách thức đối với phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long

06/07/2022

Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong nền kinh tế cả nước. Hiện nay, Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với 3 thách thức lớn là: biến đổi khí hậu, các vấn đề nội tại về phát triển thiếu bền vững và tác động của thủy điện Mekong. Hành động thích ứng cần dựa vào sự hiểu biết và tôn trọng quy luật tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long đặt trong bối cảnh tổng thể. Bài viết phân tích 3 thách thức nêu trên của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những biến động của lưu vực Mekong; đề xuất những định hướng chiến lược cho sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó nguyên tắc cẩn trọng nên được xem là nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt.

 Sự ảnh hưởng thủy triều, chế độ dòng chảy ở Đồng bằng sông Cửu Long có nét độc đáo, dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là “nước ròng, nước lớn” và thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong, nước kém” và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi”. Ảnh: TL

Tổng quan về Đồng bằng sông Cửu Long và quy luật của các hệ thống tự nhiên1

Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và an ninh lương thực quốc gia. Với diện tích khoảng 4 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, ở độ cao trung bình khoảng 1,5 mét trên mực nước biển, dân số 18 triệu người, Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất 50% sản lượng lương thực, đóng góp 20% GDP, 65% sản lượng trái cây và 75% sản lượng thủy sản của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và an ninh lương thực quốc gia. Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng châu thổ trẻ được hình thành trong quá trình bồi đắp phù sa của sông Mekong trong khoảng 6.000 năm trở lại đây, thuật ngữ gọi là “quá trình kiến tạo đồng bằng”. Sông Mekong hàng năm tải một lượng trung bình phù sa là 160 triệu tấn và lượng cát sỏi khoảng 30 triệu tấn năm. Sự xuất hiện và tồn tại của Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào các tiến trình của dòng sông Mekong tạo nên tương tác với các quá trình biển. Do đó, khi xem xét vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long không thể tách rời khỏi bối cảnh lưu vực Mekong và biển. Phù sa mịn và dinh dưỡng bám vào phù sa là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho đất, hệ sinh thái thủy sinh nước ngọt và năng suất thủy sản vùng ven biển. Phù sa mịn có vai trò bồi đắp, ổn định bờ sông, bờ biển và cân bằng động lực dòng chảy. Khi lượng phù sa trong dòng chảy bị giảm sẽ tạo nên hiện tượng “nước đói” không bồi đắp được và gây sạt lở. Cát và sỏi di chuyển ở đáy sông có vai trò bồi đắp, ổn định bờ sông, bờ biển.

Về kinh tế, Đồng bằng sông Cửu Long có hai trụ cột kinh tế chính là nông nghiệp và thủy sản. Tất cả những hợp phần kinh tế khác ở Đồng bằng sông Cửu Long như công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều từ hai trụ cột kinh tế này xây nên. Hai trụ cột kinh tế chính này dựa vào nền tảng chính là đất và nước. Đất và nước của Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sông Mekong, nước mưa và sự tương tác với biển, thủy triều. Khi xét về nước cần xét 3 khía cạnh là số lượng, chất lượng và thời gian. Khi xét về đất cần xem xét số lượng và chất lượng, tức độ màu mỡ và sức khỏe của đất.

Trong quá khứ, ở Đồng bằng sông Cửu Long người dân không có từ “mùa lũ” mà chỉ có từ “mùa nước nổi” để chỉ mùa nước dâng do nước từ phía thượng nguồn sông Mekong đổ về (từ tháng 6 – 7 đến tháng 12 hàng năm). Đặc điểm lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long khác so với lũ ở miền Trung và miền Bắc. Lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long dâng lên chậm và rút chậm “hiền hòa” hơn so với miền Trung và miền Bắc. Điều này là do có hệ thống điều hòa tự nhiên gồm 3 “túi nước” có khả năng hấp thu nước, điều hòa dòng chảy. Hồ Tonle Sap ở Campuchia có diện tích 300.000ha vào mùa khô, khi hấp thu nước lũ giãn nở lên 1,5 triệu ha, tức gấp 5 – 6 lần. Vùng Tứ giác Long Xuyên ở hữu ngạn sông Hậu có diện tích khoảng 600.000 ha, hàng năm ngập 2,5 – 3,0 mét vào mùa lũ có khả năng hấp thu khoản 9 tỉ m3 nước lũ. Vùng Đồng Tháp Mười, với diện tích 700.000 ha có khả năng hấp thu khoảng 10 tỉ m3. Các khối nước khổng lồ được hấp thu, tạm trữ trong các vùng trũng này điều hòa dòng chảy, giảm ngập cho phía hạ lưu trong mùa lũ và bổ sung dòng chảy vào mùa khô, giúp cân bằng mặn – ngọt cho vùng ven biển.

Sự tương tác với biển tạo nên chế độ thủy văn nội địa của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Sự ảnh hưởng thủy triều, chế độ dòng chảy ở Đồng bằng sông Cửu Long có nét độc đáo, dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là “nước ròng, nước lớn” và thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong, nước kém” và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi”. Trong mùa khô ảnh hưởng của thủy triều lên đến Phnom-Penh, Campuchia. Chế độ thủy triều độc đáo với nước ròng, nước lớn hàng ngày; nước ròng, nước kém hàng tháng và mùa khô, mùa nước là vô cùng quan trọng cho sự hình thành và tồn tại của Đồng bằng sông Cửu Long. Chế độ thủy văn này hình thành sinh thái, văn hóa lối sống và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Chế độ thủy triều cũng có tác dụng xúc rửa, tự làm sạch cho đồng bằng.

Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Biến đổi khí hậu đang diễn ra ảnh hưởng mọi mặt đời sống và sản xuất ở Đồng bằng sông Cửu Long với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa trái mùa, tăng tần suất các sự kiện cực đoan. Nước biển dâng là một quá trình diễn ra dần dần và chậm, tốc độ nước biển dâng hiện nay chỉ khoảng 3.0mm/năm. Có thể thấy, vấn đề nước biển dâng lâu dài hơn và không khẩn cấp bằng sự sụt lún của Đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, từ sau trận lũ lớn năm 2011, nước lũ về Đồng bằng sông Cửu Long thường là lũ trung bình và thấp. Đỉnh điểm là lũ thấp cực đoan năm 2015 dẫn đến tình trạng hạn mặn mùa khô năm 2016. Năm 2016, có lũ về nhưng vẫn thấp hơn đỉnh trung bình nhiều năm nên gây ra cảm nhận Đồng bằng sông Cửu Long không còn lũ do các đập thủy điện chặn dòng. Trước tiên nên xem xét nguyên nhân gây ra lũ thấp. Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc lượng nước sông Mekong, tổng dòng chảy trung bình 475 tỉ m3/năm, trong đó phần Trung Quốc đóng góp 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% từ biên giới Lào – Trung Quốc trở xuống, trong đó mưa ở Lào, đông bắc Thái Lan và Campuchia là quan trọng nhất. Mưa tại chỗ ở Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 1.400-2.000mm/năm đóng góp 11%.

Về thủy điện, các đập ở Trung Quốc và chi lưu là các đập có hồ chứa lớn, trữ nước mùa lũ, xả ra phát điện trong mùa lũ và mùa khô. Còn 11 đập dự kiến trên dòng chính ở Lào và Campuchia vận hành theo ngày, tích nước khoảng 16 giờ, xả ra khoảng 8 giờ. Trong những năm bình thường các đập Trung Quốc không có khả năng nhiều trong việc kiểm soát nguồn nước do phần đóng góp ít và do các đập cũng phải xả ra để phát điện. Trong những năm khô hạn, các đập này gia tăng trữ nước và làm nghiêm trọng thêm tình hình. Còn 11 đập ở hạ lưu vực sau khi hoàn tất thi công, trong những năm bình thường các đập này không ảnh hưởng lớn đến mực nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng những năm khô hạn mỗi đập có khả năng giữ nước từ 1,5 đến 18 ngày làm nước về chậm cả tháng khi đi qua chuỗi đập và khi đó tình hình sẽ nghiêm trọng.

Sự can thiệp vào hệ thống điều hòa tự nhiên làm gia tăng ngập và hạn – mặn

Trong 20 năm qua, rất nhiều diện tích ở 2 túi nước Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên đã bị bao đê khép kín để canh tác lúa vụ 3 (thu đông). Trong 11 năm (2000 – 2012) diện tích lúa vụ 3 ở 4 tỉnh: Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, tăng mạnh nhất vào năm 2005, chững lại vào năm 2006 – 2008 và tăng lại vào năm 2009 – 2012. Năm 2017, tổng diện tích lúa vụ 3 trong mùa lũ trên toàn đồng bằng lên đến 810.000. Các ô đê bao khép kín này làm thu hẹp không gian và thể tích hấp thu lũ của Đồng bằng sông Cửu Long rất lớn. Những khối nước khổng lồ này không được hấp thu vào các vùng đồng ngập lũ đã gây gia tăng ngập ở các vùng hạ lưu và chảy hết ra biển trong mùa lũ. Đến mùa khô, hai vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười không có nước để bổ sung cho dòng chính đẩy mặn ra, làm gia tăng xâm nhập mặn vùng ven biển. Canh tác lúa 3 vụ trong đê bao khép kín cũng làm cạn kiệt nguồn thủy sản tự nhiên, là nguồn dinh dưỡng quan trọng của người dân nông thôn và nguồn thu nhập cho những người nghèo không đất ở nông thôn. Đê bao khép kín cũng ngăn không cho nước lũ vào đồng. Kinh nghiệm cho thấy, sau khoảng 20 – 25 năm đất đai sẽ cạn kiệt chất dinh dưỡng và chi phí canh tác tăng cao.

Khai thác nước ngầm, ô nhiễm nước mặt và sụt lún đất

Theo báo cáo của Đại học Utrectch, Hà Lan cho biết, sự sụt lún liên quan đến khai thác nước ngầm đã tăng dần trong các thập niên vừa qua. Trong 25 năm từ (1991 đến 2016), Đồng bằng sông Cửu Long đã sụt lún trung bình 18cm do khai thác nước ngầm, tính toán theo mô hình là 1.1cm/năm, có những nơi sụt lún 2.5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng. Trong 25 năm qua, những vùng lớn của Đồng bằng sông Cửu Long đã bị hạ mực nước ngầm hơn 5m. Kết quả mô hình sụt giảm trung bình trên toàn đồng bằng cho thấy tầng nước càng sâu càng sụt giảm nhiều và những vùng sụt giảm mạnh là những vùng xung quanh các đô thị lớn, các khu công nghiệp có khai thác nước ngầm nhiều như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Tân An, Thành phố Hồ Chí Minh có những vùng sụt giảm hình nón đối với tất cả các tầng nước, với mực nước ngầm giảm hơn 20m, có nơi hơn 40m.

Bên cạnh đó, khoảng 100 triệu m3 nước thải sinh hoạt, 600.000 m3 chất thải rắn không qua xử lý đã được xả thẳng ra môi trường nước. Nhiều nhà máy công nghiệp cũng xả nước thải và chất thải rắn ra sông ngòi gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Như vậy, vấn đề sụt lún Đồng bằng sông Cửu Long đáng lo ngại hơn nhiều so với nước biển dâng (trung bình khoản 3mm/năm). Để cứu Đồng bằng sông Cửu Long khỏi bị chìm nhanh chỉ có một cách duy nhất là phải giảm khai thác nước ngầm. Đối với vùng ven biển có thể áp dụng các công nghệ lọc nước biển như màng Nano và RO. Đối với vùng nội địa, cần phải khôi phục chất lượng nước mặt bằng cách giảm ô nhiễm từ hai nguồn lớn là công nghiệp và nông nghiệp thâm canh. Cần thay đổi chiến lược nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long sang hướng nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, chú trọng chất lượng và đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản. Công nghiệp cho Đồng bằng sông Cửu Long nên theo hướng công nghiệp chế biến, hỗ trợ cho nông nghiệp, áp dụng công nghệ hiện đại giảm ô nhiễm.

Sạt lở bờ sông, bờ biển

Đồng bằng sông Cửu Long do quá trình bồi đắp của phù sa, cát sỏi tạo nên trong quá trình “kiến tạo đồng bằng”. Trong quá trình đó, sạt lở và bồi đắp là một quá trình tự nhiên. Tuy nhiên, trong quá khứ (trước năm 1992 khi các đập dòng chính sông Mekong bắt đầu được xây dựng ở Trung Quốc), trong quá trình kiến tạo đồng bằng tổng lượng bồi đắp ở Đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn tổng lượng sạt lở. Trong quá khứ không có hiện tượng sạt lở trên diện rộng và trung bình trong 6.000 năm qua và đồng bằng được mở rộng về phía Đông với tốc độ 26m/năm và về hướng mũi Cà Mau với tốc độ 16m/năm, tức là khuynh hướng bồi luôn trội hơn khuynh hướng lở. Trong 25 năm vừa qua, khuynh hướng sạt lở trội hơn khuynh hướng bồi đắp, nhất là càng về sau trong khoảng thời gian 10 năm và 5 năm gần đây sạt lở càng gia tăng. Hiện nay, hơn 50% tổng chiều dài bờ biển của Đồng bằng sông Cửu Long đang bị sạt lở dữ dội, có nơi bờ biển thụt lùi đến hơn 50m và trung bình mỗi năm mất khoảng 50 ha đất ven biển. Sạt lở bờ sông cũng đang diễn ra dữ dội trên diện rộng. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long là 891km. Như vậy tình hình sạt lở hiện nay đã không còn cân bằng nữa. Nguyên nhân của tình hình sạt lở trong vòng 25 năm vừa qua càng về gần đây càng gia tăng, phải do những yếu tố có biến động bất thường sau năm 1992. Xét thông qua các yếu tố, chúng ta thấy có 2 nguyên nhân chính có biến động đáng kể từ sau năm 1992 là tải lượng phù sa mịn và lượng cát mất đi do khai thác cát trên sông Mekong. Ngoài ra, ít có nguyên nhân nào khác có biến động đáng kể từ sau năm 1992 đủ để giải thích tình trạng sạt lở gia tăng trên diện rộng trên toàn Đồng bằng sông Cửu Long.

Tác động của thủy điện Mekong

Giảm phù sa mịn: Gây bạc màu đất, ảnh hưởng nông nghiệp; gây ra hiện tượng “nước đói phù sa” dẫn đến sạt lở bờ sông, bờ biển; giảm lượng dinh dưỡng mang ra biển ảnh hưởng năng suất thủy sản ven biển trong vùng Mekong Plume; thiếu phù sa trong vùng nước biển ven bờ, giảm bồi đắp và gia tăng sạt lở bờ biển, nhất là đoạn bờ biển bùn phía biển Đông từ Sóc Trăng đến mũi Cà Mau và phía biển Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên. Thiếu dinh dưỡng cho hệ sinh thái thủy sinh, ảnh hưởng đến năng suất thủy sản nước ngọt.

Chặn toàn bộ cát sỏi về Đồng bằng sông Cửu Long: Tất cả các nghiên cứu đều thống nhất rằng hiện nay, toàn bộ cát sỏi từ phía thượng lưu vực đã bị chặn, sau khi 11 đập ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% cát sỏi sẽ bị chặn. Khi đó sạt lở sẽ diễn ra dữ dội đối với bờ sông Tiền, sông Hậu và bờ biển nhất là đoạn bờ biển cát dài 250km ở vùng cửa sông Cửu Long từ Tiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đến Bạc Liêu.

Mất 100% cá trắng: Khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% lượng cá trắng, tức các loài cá phải di cư ngược dòng hàng năm để sinh sản sẽ hoàn toàn biến mất. Sự tổn thất cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng và thu nhập của người dân Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là người nghèo nông thôn và ảnh hưởng đến các loài ăn cá và tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long.

Ảnh hưởng thủy sản biển: Trong 160 triệu tấn tải lượng phù sa mịn sông Mekong vận chuyển hàng năm, một phần được bồi lắng ở các cánh đồng ngập lũ ở Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long, còn lại ước lượng khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (vùng Mekong Plume). Khi lượng phù sa và dinh dưỡng này giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất thủy sản vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long trong vùng Mekong Plume.

Ảnh hưởng dòng chảy: Đối với ảnh hưởng dòng chảy của các đập thủy điện Mekong, cần phân biệt giữa các đập ở Trung Quốc và 11 đập ở hạ lưu vực và phân biệt giữa những năm bình thường và những năm đặc biệt khô hạn. Ở phần Trung Quốc, các đập có hồ chứa lớn, có khả năng tích nước trong mùa lũ, xả ra để phát điện trong mùa khô. Theo lý thuyết, các đập này sẽ làm tăng dòng chảy mùa khô đối với Đồng bằng sông Cửu Long trrong những năm bình thường. Do lượng nước đóng góp vào lưu vực của phần Trung Quốc là nhỏ, chỉ 16% nên các đập này ảnh hưởng không lớn về lượng nước đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, trong những năm đặc biệt khô hạn các đập này có thể gia tăng trữ nước và làm tình hình khô hạn trầm trọng hơn. Bên cạnh đó, 11 đập ở phía hạ lưu vực, về lý thuyết cho nước chảy qua trong ngày (trung bình đóng đập 8 giờ và xả ra phát điện trong 16 giờ); trong những năm bình thường các đập này sẽ không ảnh hưởng lớn về lượng nước và mực nước ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, trong những năm đặc biệt khô hạn, mỗi đập có khả năng lưu nước từ 1,5 ngày đến 18 ngày, làm chậm đáng kể dòng chảy đi qua chuỗi đập, làm cho tình trạng hạn – mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long tồi tệ hơn một cách nghiêm trọng.

Một số giải pháp ứng phó và phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Một là, đối với biến đổi khí hậu, vì tất cả các dự báo đều hàm chứa sự không chắc chắn, có thể thay đổi, cập nhật trong tương lai, vì vậy áp dụng “Nguyên tắc không hối tiếc”, trong đó ưu tiên các hành động thích ứng ít rủi ro tác động ngược, có thể sửa đổi được khi nhận ra sai lầm. Không nên đi vào con đường dẫn vào ngõ cụt, không có đường lui. Hành động thích ứng phải có cái nhìn tổng thể về không gian và thời gian, đa ngành; tính đến tác động tổng thể lên toàn đồng bằng, tác động đến nơi khác ngành khác và về lâu dài. Cụ thể, nên hạn chế các biện pháp công trình lớn như đắp cửa sông và ngọt hóa, vừa kém hiệu quả, vừa đảo lộn điều kiện tự nhiên, không thể cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất được. Tác động lớn nhất của các công trình ngăn sông, ngăn mặn là làm mất chế độ thủy triều, tạo thành vùng nước tù ô nhiễm, mất sự trao đổi sinh thái với biển, ảnh hưởng sinh thái nội địa và sinh thái biển.

Hai là, đối với công nghiệp, vì vùng Đồng bằng sông Cửu Long rất nhạy cảm về môi trường, nhất là môi trường nước, công nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long chỉ nên ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến để hỗ trợ cho nền nông nghiệp chuyển hướng sang nông nghiệp sạch, nâng cao giá trị của chuỗi giá trị và tránh ô nhiễm nguồn nước mặt.

Ba là, đối với nông nghiệp, nên chuyển hướng chiến lược sang nông nghiệp bền vững, chú trọng giá trị hơn số lượng để phục hồi đất đai, nguồn nước và sức chống chịu của đồng bằng. Cần xem lại khái niệm và chiến lược an ninh lương thực.

Bốn là, đối với sụt lún, đây là vấn đề nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần so với nước biển dâng và không thể giải quyết bằng biện pháp công trình. Con đường duy nhất để cứu Đồng bằng sông Cửu Long là phải giảm sử dụng nước ngầm. Cụ thể, đối với vùng ven biển sử dụng công nghệ (Nano, RO,…); đối với vùng nội địa, giảm ô nhiễm nước mặt (công nghiệp, nông nghiệp thâm canh…).

Năm là, đối với sạt lở, nguyên nhân chính của tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên diện rộng của Đồng bằng sông Cửu Long là do thiếu hụt phù sa mịn và cát sỏi gây mất cân bằng trên toàn hệ thống. Dự báo khuynh hướng sạt lở sẽ trầm trọng hơn và sẽ không có biện pháp nào ở nội tại Đồng bằng sông Cửu Long có thể cưỡng lại khuynh hướng này.

Chính vì vậy, cần lập bản đồ cảnh báo độ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân để trách thiệt hại tài sản, tính mạng. Quản lý khai thác cát chặt chẽ để đảm bảo duy trì bờ sông, bờ biển biết rằng trong tương lai không còn nguồn cung cấp cát từ sông Mekong nữa sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu hoàn tất. Bên cạnh đó, không nên lấp các hố sâu tự nhiên, vì rất tốn kém và không hiệu quả. Các hố sâu này hình thành theo quy luật tự nhiên có vai trò cân bằng động lực, khi lấp các hố này sẽ xuất hiện các hố sâu khác. Không nên tiêu tốn nguồn lực vào các biện pháp công trình lãng phí và kém hiệu quả. Các biện pháp công trình như bờ kè, chỉ nên tiến hành ở những nơi tối cần thiết để bảo vệ tài sản, tính mạng người dân trong ngắn hạn. Các biện pháp công trình, như bờ kè có thể tạo cảm giác an toàn giả, đến khi bờ kè sụt đổ, thiệt hại sẽ lớn hơn. Bất cứ công trình nào cũng đều có tuổi thọ và chi phí duy tu sẽ tăng theo thời gian. Trồng và phục hồi rừng ven biển rất cần thiết. Tuy nhiên, trồng rừng chỉ khả thi ở những nơi bồi còn đủ phù sa trong nước. Ở những nơi đang sạt lở và đặc biệt trong tương lai khi phù sa trong nước giảm mạnh, việc trồng rừng sẽ không khả thi.

Vì hệ tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long vận hành theo quy luật tự nhiên, nằm trong tổng thể nhất quán. Hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng đến địa phương khác. Hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác. Hành động ngày hôm nay có thể ảnh hưởng đến dài hạn, vì vậy cần đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ. Tính đến vùng nước biển ven bờ có liên hệ chặt chẽ về sinh thái với Đồng bằng sông Cửu Long và là một phần quan trọng của nền kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long.

Chú thích:

1. Thuật ngữ “Hệ thống tự nhiên” sử dụng trong bài này khác với thuật ngữ “hệ sinh thái”. Hệ thống tự nhiên ở đây dùng để chỉ các hệ thống như sông ngòi, dòng chảy, quá trình vận chuyển phù sa, hình thành nên điều kiện tự nhiên của vùng.

tapchimattran.vn thực hiện

Tin liên quan